This article has been translated from English to Vietnamese.
M2 là một thước đo của cung tiền, bao gồm tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn và những khoản tiền dễ chuyển đổi.
Các nhà kinh tế học sử dụng M kèm theo một con số để chỉ định các phần nhất định của cung tiền.
Có hai định nghĩa về tiền: cung tiền M1 và M2.
M2 là một thước đo rộng hơn của cung tiền so với M1, chỉ bao gồm tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn.
M2 được theo dõi chặt chẽ như là một chỉ báo về cung tiền và lạm phát tương lai, và là mục tiêu của chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương.
Việc sử dụng cụ thể của chỉ báo này về cung tiền có sự khác nhau giữa các nền kinh tế.
Ở Mỹ, M1 là tổng số tiền mặt và số dư tài khoản thanh toán.
Cung tiền M1 bao gồm tiền xu và tiền giấy đang lưu thông - tức là những đồng tiền xu và tiền giấy lưu hành trong nền kinh tế mà Bộ Tài chính Hoa Kỳ không giữ tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang hoặc trong các kho tiền ngân hàng.
Liên quan chặt chẽ đến tiền tệ là các khoản tiền gửi có thể viết séc, cũng được gọi là tiền gửi không kỳ hạn. Đây là các khoản tiền được giữ trong các tài khoản thanh toán.
Chúng được gọi là tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi có thể viết séc vì tổ chức ngân hàng phải đưa tiền cho người gửi tiền “khi cần” khi bạn viết séc hoặc sử dụng thẻ ghi nợ.
Các khoản này cùng nhau: tiền tệ và các tài khoản thanh toán trong ngân hàng: tạo thành định nghĩa về tiền được gọi là M1, mà Hệ thống Dự trữ Liên bang đo lường hàng ngày.
Một định nghĩa rộng hơn về tiền, M2 bao gồm mọi thứ trong M1 nhưng cũng thêm các loại tiền gửi khác.
M2 bao gồm một tập hợp rộng hơn các tài sản tài chính được nắm giữ chủ yếu bởi các hộ gia đình.
M2 gồm M1 cộng với:
- Tiền gửi tiết kiệm (bao gồm các tài khoản thị trường tiền tệ, hoặc MMDAs).
- Tiền gửi có kỳ hạn mệnh giá nhỏ (tiền gửi có kỳ hạn dưới 100.000 đô la).
- Số dư trong các quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ bán lẻ (MMMFs).
Nhìn chung, M2 mở rộng để bao gồm tiền không hoàn toàn lỏng, nhưng có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền mặt hoặc quay trở lại tài khoản hiện tại.
Điều này thường được gọi là “tiền gần“.
Ngân hàng Dự trữ Liên bang chịu trách nhiệm theo dõi số lượng M1 và M2 và chuẩn bị một bản phát hành hàng tuần về thông tin cung tiền.
Ở Anh, M2 không được sử dụng thường xuyên và M4 là chỉ số chính.