This article has been translated from English to Vietnamese.

FOMC, hay Ủy Ban Thị Trường Mở Liên Bang, là một ủy ban trong Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang có nhiệm vụ đưa ra các quyết định quan trọng về lãi suất và sự phát triển của cung tiền tệ tại Mỹ.

Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang kiểm soát ba công cụ của chính sách tiền tệ

  1. Hoạt động thị trường mở
  2. Lãi suất chiết khấu
  3. Yêu cầu dự trữ

Hội đồng Thống đốc của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang chịu trách nhiệm về lãi suất chiết khấu và yêu cầu dự trữ, và Ủy Ban Thị Trường Mở Liên Bang (FOMC) chịu trách nhiệm về hoạt động thị trường mở.

Hoạt động thị trường mở đề cập đến việc Dự Trữ Liên Bang mua và bán chứng khoán trên thị trường mở để điều chỉnh lãi suất bằng cách điều chỉnh cung tiền.

Sử dụng ba công cụ này, Dự Trữ Liên Bang ảnh hưởng đến cầu và cung của các số dư mà các tổ chức ký thác nắm giữ tại các Ngân hàng Dự Trữ Liên Bang và bằng cách này thay đổi lãi suất quỹ liên bang.

Lãi suất quỹ liên bang là lãi suất mà các tổ chức ký thác cho vay các số dư tại Dự Trữ Liên Bang cho các tổ chức ký thác khác qua đêm.

FOMC Meeting

Cấu trúc FOMC

Ủy Ban Thị Trường Mở Liên Bang (FOMC) bao gồm mười hai thành viên:

  • Bảy thành viên của Hội đồng Thống đốc của Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang.
  • Chủ tịch của Ngân hàng Dự Trữ Liên Bang New York.
  • Bốn trong số mười một chủ tịch Ngân hàng Dự Trữ còn lại, phục vụ nhiệm kỳ một năm theo hình thức luân phiên.

Các ghế luân phiên được lấp đầy từ bốn nhóm Ngân hàng sau.

Một chủ tịch Ngân hàng từ mỗi nhóm:

  • Boston, Philadelphia, và Richmond
  • Cleveland và Chicago
  • Atlanta, St. Louis, và Dallas
  • Minneapolis, Kansas City, và San Francisco

Các chủ tịch Ngân hàng Dự Trữ không có quyền biểu quyết tham gia các cuộc họp của Ủy ban, tham gia thảo luận và đóng góp vào đánh giá của Ủy ban về nền kinh tế và các lựa chọn chính sách.

FOMC tổ chức tám cuộc họp định kỳ hàng năm.

Tại các cuộc họp này, Ủy ban xem xét các điều kiện kinh tế và tài chính để xác định lập trường chính sách tiền tệ phù hợp và đánh giá rủi ro đối với các mục tiêu dài hạn về sự ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế bền vững.

Lịch sử

FOMC được thành lập vào năm 1913 khi Đạo luật Dự Trữ Liên Bang năm 1913 đã trao cho Fed trách nhiệm đối với chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ để ứng phó với sự hoảng loạn tài chính lớn và các cuộc chạy đua ngân hàng, đặc biệt là trong năm 1907.

Sứ mệnh

Ủy ban đánh giá điều kiện kinh tế và tài chính của quốc gia và xác định chính sách tiền tệ phù hợp, như đã đề cập, thông qua hoạt động thị trường mở.

Một trong những mục tiêu chính của Fed là kiểm soát lạm phát của đất nước bằng cách thiết lập mục tiêu lạm phát.

Ủy ban đặt mục tiêu đạt được mục tiêu này bằng cách thiết lập một mục tiêu cho lãi suất quỹ liên bang (chi phí mà các ngân hàng tính cho nhau khi vay mượn qua đêm).

Việc bán chứng khoán chính phủ cho các ngân hàng giảm lượng vốn mà họ có thể cho vay, làm tăng lãi suất một cách hiệu quả.

Ngược lại, việc mua chứng khoán chính phủ từ các ngân hàng sẽ tăng lượng vốn sẵn có của họ, do đó, làm giảm lãi suất.